Là gì

Các nguyên tắc của phương pháp nhận thức biện chứng – Phần

Đánh giá bài viết

Trong bài viết này gtvthue.edu.vn sẽ chia sẻ chuyên sâu kiến thức của Nguyên tắc phân đôi cái thống nhất là của ai dành cho bạn.

Song, trường hợp khi sự vật bao gồm các thành phần đối lập không phải là cách có thể duy nhất về sự thống nhất của các mặt đối lập. Trong triết học Mác – Lênin, luận điểm coi sự vật như là sự thống nhất của các mặt đối lập phản ánh sự tồn tại trong sự vật không chỉ các thành phần đối lập mà cả các thuộc tính, các mặt đối lập có khuynh hướng, xu hướng biến đổi đối lập cũng như phản ánh điều là sự vật mâu thuẫn với chính nó, chứa đựng trong bản thân mật đối lập với nó – khả năng biến thành sự vật khác chỉ khi có những điều kiện thích hợp. Tất cả những điều đó đã được chúng ta chỉ ra ở trên.

Vậy là, yêu cầu phải phân đôi cái thống nhất thành các mặt đối lập và phải nhận thức mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng là điều rút ra từ tính phổ biến của mâu thuẫn, từ quy luật về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật chỉ ra nguồn gốc vận động và phát triển của hiện thực khách quan và của nhận thức. Yêu cầu đó thể hiện thực chất của phương pháp nhận thức biện chứng. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó… đó là thực chất (một trong những “bản chất”, một trong những đặc trưng hay đặc điểm cơ bản, nếu không phải là đặc trưng hay đặc điểm cơ bản nhất) của phép biện chứng”.

Các nguyên tắc phương pháp lịch sử và nguyên tắc phân đôi cái thống nhất thành các mặt đối lập liên quan tới giai đoạn phát triển của nhận thức mà ở giai đoạn đó bản chất mâu thuẫn của đối tượng được biểu hiện rõ vào toàn bộ tổng thể các thuộc tính và mối liên hệ tất yếu của đối tượng, xét trong sự phụ thuộc lẫn nhau tự nhiên của chúng, xét trong đời sống sinh động, được tái tạo trong một hệ thống các hình tượng lý tưởng. Giai đoạn phát triển đó của nhận thức xã hội được phản ánh trong phạm trù bản chất. Song, sự nhận thức các mâu thuẫn bắt đầu sớm hơn nhiều. Những bước đi đầu tiên theo hướng đó được bắt đầu thực hiện ở giai đoạn vạch rõ các đặc trưng chất lượng và số lượng.

Yếu tố đầu tiên, khởi thủy của nhận thức mâu thuẫn là việc phát hiện ra trong đối tượng được nghiên cứu những hiện tượng khác nhau và đối lập mà lúc đầu được xem xét như các hiện tượng hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc nhau, cùng tồn tại.

Xem thêm:: Mẹ nuôi chia sẻ xúc động trong lễ cúng 49 ngày của Phi Nhung

Trong tiến trình nhận thức tiếp theo, người ta xác định mối liên hệ lẫn nhau, sự tương trợ lẫn nhau và chuyển hóa lẫn nhau, do đó chúng được xem xét như là các mặt có liên quan rất chặt chẽ của cùng một hiện tượng, như là sự thống nhất của các mặt đối lập. Tính quy luật đó trong sự vận động của nhận thức có thể thấy rất rõ qua lịch sử phát triển những tri thức về điện.

Như đã rõ, lần đầu tiên các hiện tượng về điện đã được biết đến vào thời xa xưa ở hổ phách, là vật sau khi cọ xát có khả năng hút các vật nhẹ khác. Về sau này khả năng đó còn được tìm thấy ở mã não, kim cương, thạch anh, lưu huỳnh và các chất khác. Vào nửa sau thế kỷ XVII, O. phôn Hê-ri-ke phát hiện ra rằng bên cạnh lực hút điện còn tồn tại lực đẩy điện, và đã kết luận rằng lực hút điện xuất hiện khi có sự tác động qua lại giữa vật thể nhiễm điện với vật thể không nhiễm điện, còn lực đẩy điện xuất hiện khi có sự tác động lẫn nhau giữa các vật thể nhiễm điện.

Khi đó lực hút và lực đẩy điện được xem xét như hai hiện tượng độc lập, không liên quan gì với nhau mà sự thật là chúng cũng được tạo ra do cùng một lực điện. Nhưng chẳng bao lâu, S. Đuy-phê đã xác định rằng không phải tất cả các vật thể nhiễm điện đều đẩy nhau, mà một số các vật thể như thế, ví dụ hắc ín và vàng lại hút nhau. Trên cơ sở nghiên cứu hiện tượng này, ông đã kết luận rằng có hai loại điện khác nhau mà khi hút nhau, chúng lại đẩy loại điện tương tự như nó. Nhưng mỗi loại điện đó tồn tại không phụ thuộc vào loại điện kia và chúng chỉ liên quan với nhau dưới hình thức bề ngoài, tức là ngẫu nhiên.

Năm 1747, B. Phran-cơ-lin cố tìm cách giải thích sự hút và đẩy của điện từ một nguồn, hình dung chúng như là những biểu hiện hay trạng thái khác nhau của cùng một dạng điện. Theo quan điểm của ông thì có một vật chất tích điện chung (phliu-it), xuyên thấu tất cả các vật thể. Các hạt của chất đó đẩy nhau, nhưng bị các hạt của vật thể hút. Khi vật thể chứa trong nó bao nhiêu vật chất tích điện thì nó có khả năng chứa đựng bấy nhiêu, nó sẽ không thể hiện các thuộc tính điện, nó là vật thể chưa nhiễm điện, còn khi trong vật thề có thừa vật chất điện, nó trở nên nhiễm điện dương (điện của thủy tinh). Nhưng thường xảy ra trong các trường hợp, khi trong vật thể, lượng vật chất tích điện ít hơn khả năng nó có thể chứa đựng thì khi đó vật thể bị nhiễm điện âm (điện của hắc ín).

  1. Phran-cơ-lin đã giải thích sự nhiễm điện của các vật thể là do khi ma sát, vật chất điện chuyển từ vật thể này sang vật thể khác, và do đó ở một vật thể thì lượng vật chất điện lớn hơn tiêu chuẩn, còn ở vật thể kia thì ít hơn tiêu chuẩn. Ông rút ra sự đẩy lẫn nhau của các vật thể tích điện dương từ luận điểm cho rằng lực đẩy nói chung là đặc tính vốn có của các hạt vật chất điện; ông giải thích lực hút giữa các vật thể tích điện khác dẫu là do các vật thể tích điện dương có xu hướng truyền lực vật chất điện thừa, còn các vật có điện tích âm lại muốn bù đắp lượng vật chất điện không đủ. Cả lực hút của vật thể nhiễm điện đối với vật thể không nhiễm điện được ông giải thích bởi xu thế điện muốn phân bố đồng đều.

Dựa trên lý thuyết của B. Phran-cơ-lin, nhà vật lý người Nga Ph. U.T. E-pi-nút đã giải thích phát minh của Gi. Can-tôm, người đã xác định rằng khi đưa một vật thể điện tích dương gần tới ống trụ kim loại đặt trên một giá thủy tinh, ống trụ đó sẽ bị nhiễm điện. Hơn thế nữa, ở phía đầu hướng về phía vật thể tích điện xuất hiện điện tích âm, còn ở đầu đối diện thì xuất hiện điện tích dương. E-pi-nút đã giải thích hiện tượng đó như sau: khi vật thể tích điện dương được đưa gần ống trụ, thì điện trong ống trụ bị đẩy về phía đầu xa của nó. VÌ vậy, đầu xa của ống trụ tích điện dương, còn đầu gần, mà từ đó điện bị đẩy đi, thì tích điện âm. E-pi-nút đã chứng minh giả thiết của mình rằng khi chạm ngón tay vào ống trụ thì điện dương đi xuống đất, còn ống trụ lại tích điện âm.

Xem thêm:: Dòng Điện Foucault xuất hiện khi nào ? – Điện Nước Khánh Trung

Song, lý thuyết của B. Phran-cơ-lin không thể giải thích một cách thỏa mãn là tại sao các vật thể mang điện tích âm lại đẩy nhau. Việc viện cớ vào điều là lực đẩy phải là vốn có cho các hạt của vật thể không có số lượng vật chất điện bình thường, xem ra là giả tạo. Vì vậy, lý thuyết này không thể thay được quan điểm cho rằng có hai loại điện mà một loạt các nhà bác học vẫn tiếp tục tán thành. Đặc biệt là Xim-mơ đã có những bước tiến nhất định trong việc nghiên cứu lý thuyết đó. Khái quát những thí nghiệm của mình với sự nhiễm điện của lụa, ông đi tới kết luận rằng trong tất cả các vật thể đều chứa hai loại điện đối lập đương nhiên là có số lượng bằng nhau, liên kết hoặc trung hòa nhau và vì vậy không được biểu hiện ra. Thế thì vật thể trở nên nhiễm điện khi trong nó thừa một loại điện nào đó. Xim-mơ đã giải thích sự nhiễm điện của các vật thể do ma sát là bởi khi cọ sát hai vật thể với nhau, điện dương đã chuyển từ vật thể kia sang vật thể này, do đó một vật thể tích điện dương, còn vật thứ hai tích điện âm. Vốn là ngược chiều, các điện tích trong các vật thể đó bằng nhau về đại lượng.

Dễ dàng nhận thấy rằng khác với S. Đuy-phê là người đã cho rằng hai loại điện đối lập độc lập với nhau, tồn tại tự nó, trong các vật thể khác nhau, Xim-mơ đã giả định rằng chúng tồn tại ngay trong cùng một vật thể và bằng sự tác động lẫn nhau của mình, chúng “trung hòa” và “liên kết” với nhau, nghĩa là tạo thành một sự thống nhất nhất định.

Việc giải thích một cách triệt để khoa học về mâu thuẫn nằm trong cơ sở các hiện tượng điện, đã chỉ có thể thực hiện được vào cuối thế kỷ XIX sau khi phát hiện ra điện tử (Crúc-xơ, 1879; Gi. Tôm-xơn, 1897), vật mang điện tích âm và prô-tôn (Gôn-đô-stanh, 1886) có điện tích dương mà sự tác động lẫn nhau của chúng đã cho phép hiểu rõ những mâu thuẫn quy định các hiện tượng điện như là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, chuyển hóa lẫn nhau trong các điều kiện thích hợp.

Vậy là, sự phát triển tri thức về điện chứng minh rằng sự nhận các mâu thuẫn được thực hiện thông qua việc phát hiện ra trong đối tượng được nghiên cứu những hiện tượng đối lập khác nhau và việc xác định mối liên hệ qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.

Xem thêm:: Nhà cái Bongvip 188 có uy tín không?

Tính quy luật tương tự như thế cũng thấy cả ở trong lịch sử nhận thức về nhiệt, đặc biệt là về bức xạ nhiệt.

Trong tiến trình nghiên cứu về nhiệt đã nhận thấy rằng một số vật thể phát xạ các tia nhiệt, còn một số vật thể khác hấp thụ nhiệt. Việc phát xạ các tia nhiệt, còn một số vật thể khác hấp thụ nhiệt. Việc phát xạ các tia nhiệt liên quan đến các quá trình cháy, đến vật thể bị đốt, nung nóng, còn việc hấp thụ nhiệt liên quan đến một vật thể tương ứng có nhiệt độ thấp hơn so với các vật thể bức xạ nhiệt. Lúc đầu, các hiện tượng đối lập đó được xem xét như là các hiện tượng độc lập, không phụ thuộc vào nhau, được phân chia giữa các vật thể khác nhau. Sau đó, vào cuối thế kỷ XVIII, người ta bắt đầu tìm cách xác định mối liên hệ giữa các hiện tượng đó. Như nhà vật lý ở Giơ-ne-vơ P. Prê-vơ năm 1791 đưa ra ý kiến cho rằng bức xạ và hấp thụ nhiệt vốn là đặc tính của tất cả các vật thể, rằng mỗi vật thể luôn luôn phát xạ từ vào không gian và hấp thụ những tia nhiệt được phát xạ từ các vật thể khác tới nó. Theo quan điểm của ông, số lượng các tia nhiệt được phát xạ và được hấp thụ phụ thuộc vào nhiệt độ của vật thể và trạng thái của môi trường xung quanh. Nếu vật thể bức xạ một lượng nhiệt bằng lượng nhiệt nhập vào từ các vật thể khác xung quanh nó, thì giữa các vật thể đó có sự cân bằng nhiệt. Còn nếu như một bộ phận các vật thể bị đốt nóng hơn thì chúng sẽ phát xạ một lượng tia nhiệt lớn hơn là hấp thụ vào, còn các vật thể nóng ít hơn sẽ phát xạ ít hơn là hấp thụ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: A. Sép-tu-lin – Phương pháp nhận thức biện chứng – NXB ST 1989.

Cám ơn bạn đọc đã đọc hết bài viết kiến thức chuyên sâu của gtvthue.edu.vn
Back to top button