Là gì

Khái niệm hiện đại là gì – Boxhoidap.com

Đánh giá bài viết

Trong bài viết này gtvthue.edu.vn sẽ chia sẻ chuyên sâu kiến thức của Hiện đại là gì dành cho bạn.

1. Khái niệm hiện đại hóa? Những đặc điểm của một xã hội hiện đại hoá.

Diễn trình lịch sử của loài người đã từng chứng kiến nhiều thay đổi cả về mặt cá thể cũng như loài. Những thay đổi ấy luôn được đánh dấu bằng những cột mốc của những thay đổi xã hội: Đó là những cuộc cách mạng và tương ứng với nó là những nền văn minh nào đó. Tuy nhiên, trong rất nhiều cột mốc ấy thì chỉ một cột mốc (mà từ đó lịch sử loài người có một bước ngoặt đáng kể, cột mốc này gắn chặt với những thay đổi căn bản bởi cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật) sản sinh ra thuật ngữ hiện đại hoá (modernization).

Hiện đại hoá không phải là danh từ để chỉ định cái đương thời (như các từ điển Latin hay Anh thường diễn đạt như một cái gì đó đối lập với cổ xưa, truyền thống) mà là một thuật ngữ tổng quát nhằm biểu đạt diễn trình biến cải mau chóng khi con người nắm được khoa học kỹ thuật tiên tiến và dựa vào đó để phát triển xã hội với một tốc độ mau chóng chưa từng thấy trong lịch sử. Ngay thủa đầu tiên, danh từ hiện đại thường được hiểu với nghĩa xấu, tiêu cực- Shakespeare thường dùng danh từ này theo nghĩa này. Khi các tác giả Anh gọi nhà lãnh đạo Pháp là người hiện đại thì cũng có hàm nghĩa xấu. Sau đó người ta đã gán cho nó một ý nghĩa khách quan hơn và trong thế kỷ 17 và 18, sử gia châu âu dần dần bãi bỏ sự phân chia thời gian theo cách tính của thiên chúa giáo và bắt đầu phân chia thời gian thành cổ xưa- trung cổ- hiện đại. Lịch sử hiện đại thoạt tiên được tính từ ngày thị trấn Constantinople sụp đổ hoặc ngày khám phá Mỹ Châu, ngày 29/5/1943 lúc mặt trời mọc hay ngày 12/10/1942 lúc 2 giờ sáng- nếu ta đi vào chi tiết- nhưng ngày nay thời hiện đại được coi như khởi sự vào năm 1500. [1- tr. 10]

Ngày nay, từ hiện đại đã được dùng để chỉ những đặc tính chung trong các quốc gia phát triển, trong sự phát triển không chỉ ở phương diện kinh tế mà còn ở cả các lĩnh vực như chính trị và xã hội. Và hiện đại hoá được dùng để mô tả diễn trình phát triển của các xã hội đã thủ đắc được những đặc tính đó.

Mặc dầu thuật ngữ hiện đại hoá bao giờ cũng gắn chặt với sự phát triển khoa học công nghệ (mà khoa học công nghệ thì lại được bắt đầu từ châu âu), nhưng nội hàm của nó không chỉ là sự du nhập- theo quan niệm châu âu hoá- vào một quốc gia nào đó.

Thoạt nghe danh từ hiện đại hoá có vẻ là một danh từ lắp một ý niệm nhiều chữ: Làm cho mọi thứ hiện đại hơn; Nhưng thật ra, nó không giống những danh từ thiên chúa hoá hay Kỹ nghệ hoá mô tả sự du nhập của đạo thiên chúa và kỹ nghệ. Sự khác biệt là người ta đồng ý về ý nghĩa của thiên chúa và kỹ nghệ còn hiện đại hoá có một ý nghĩa ít người hiểu và chấp nhận. [sđ d, tr.10- 11]

Theo O. E. Black- một học giả Mỹ- thì Hiện đại hoá có thể được định nghĩa là:

một diễn trình trong đó những định chế cổ truyền phải được thích ứng hoá với những nhiệm vụ đang thay đổi mau chóng. Sự kiện đó phản chiếu sự gia tăng kiến thức của nhân loại, cho phép nhân loại kiểm soát khung cảnh và diễn trình hiện đại hoá xẩy ra đồng thời với cuộc cách mạng khoa học. Diễn trình của sự thích ứng này phát xuất tại xã hội âu Tây và chịu ảnh hưởng của những xã hội đó. Nhưng kể từ thế kỷ 19 và 20 những sự cải biến đó đã lan rộng đến cả những xã hội khác và đem lại một sự cải biến toàn diện trong tương quan nhân loại. Các nhà chính trị thường hạn chế danh từ hiện đại hoá trong những cải biến chính trị và xã hội đi theo sau quá trình kỹ nghệ hoá[sđ d, tr.12].

Như vậy, Clack muốn nhấn mạnh đến một cách hiểu tổng thể với sự phức tạp và hỗ tương liên hệ của mọi khía cạnh của diễn trình hiện đại hoá này. Nói cách khác, hiện đại hoá không đơn thuần chỉ là sự chấp nhận và áp dụng những ưu điểm của danh từ hiện đại hoá theo kiểu âu hoá, kỹ nghệ hoá hay tiến bộ và cho rằng nếu như vậy thì chỉ trong một thời gian ngắn thực hiện những điều đó thì cái gọi là hiện đại hoá sẽ được hiện thực hoá. ông đã diễn tả sự phức tạp và tính tổng thể của diễn trình này bằng một ví dụ rất hay:

Một người Anh có học thức sinh trưởng trong thế kỷ 15 sẽ thấy những gì quen thuộc và những gì mới lạ tại Anh quốc ngày nay. Con người đó có thể vẫn hiểu một phần nào đó ngôn ngữ thành văn, vẫn quen thuộc với một vài thủ tục lễ nghi, với một vài lâu đài, kiến trúc được thiết lập trong thể kỷ 15 vẫn còn tồn tại, và tại khu thôn quê một vài nét chính của lề lối sinh hoạt không thay đổi quá nhiều, ít nhất là khi mới thoạt nhìn. Tuy nhiên, y sẽ phải sửng sốt trước một sự biến cải rất sâu rộng và hầu hết những điều tai nghe, mắt thấy sẽ mới lạ và khó hiểu làm sao. [ sđ d, tr. 13]

Theo cách hiểu này, hạt nhân của quá trình hiện đại hoá là sự thích ứng của hệ thống định chế truyền thống đối với những nhiệm vụ xã hội mới mẻ. Và không chỉ ở những định chế kinh tế mà còn đồng thời cả ở những định chế chính trị , xã hội và văn hoá nữa.

Chính điều này đã dẫn đến những biến đổi đồng bộ, toàn diện trong tất cả các lĩnh vực của xã hội:

Những biến đổi về văn hoá:

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lại những biến đổi sâu xa trong hiểu biết của con người đối với khung cảnh, nó là một tác nhân khiến con người có nhu cầu hơn trong việc xét lại những kiến thức, những hoạt động truyềng thống của con người. Cũng như thế trên phương diện văn hoá tinh thần, con người đã phủ nhận những sự tôn sùng thế hệ trước và chấp nhận một cách hiển nhiên rằng sự biến cải là một trạng thái thông thường trong hoạt động tinh thần của con người.

Một đặc điểm nữa của quá trình hiện đại hoá trong đời sống tinh thần là việc áp dụng khoa học, kỹ thuật vào đời sống hàng ngày. Nhờ đó, không những con người đã có những đổi thay mang tính cách mạng trong cách điều khiển công việc (tri thức luôn được coi là động lực phát triển) mà cuộc sống của họ được nâng cao một cách rõ rệt, trong đó có cả sự nâng cao về đòi sống văn hoá tinh thần. Những ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật đến đời sống tinh thần thể hiện ở định hướng giá trị xã hội: Những hệ thống thần học, tín ngưỡng nguyên thuỷ được xét lại dưới nhãn quan khoa học, mang tính phê phán. Tát cả những điều đó ảnh hưởng chung đến tư tưởng xã hội khi nó đang dược và đã được hiện đại hoá- Đó là tư tưởng an sinh xã hội- một giá trị được xếp lên hàng đầu.

Cùng với quá trình hiện đại hoá là sự phát triển với tốc độ nhanh của các hình thức truyền thông đại chúng. Nhờ đó mọi người trong xã hội có thể cập nhật tin tức, tri thức về nhiều lĩnh vực của xã hội và tự nâng cao hiểu biết của mình.

Hiện đại hoá cũng tác động mạnh đến khía cạnh tâm lý của con người: Khác với xã hội truyền thống, con người thường tin vào định mệnh, vào vị thế xã hội mà mình hiện có thì trong xã hội hiện đại hoá, mỗi một người đều có hy vọng thay đổi vị thế xã hội của mình, và họ luôn có những ước mơ và tìm mọi cách để giấc mơ đó trở thành hiện thực. Sở dĩ như vậy là xã hội đã tạo ra những cơ hội bình đẳng cho bất cứ ai, nếu người đó có năng lực. (trường hợp của những tỷ phú thời đại tin học ở Mỹ, Trung Quốc là những ví dụ).

Những biến đổi về chính trị:

Hiện đại hoá trong lĩnh vực chính trị thể hiện rõ nét nhất ở vai trò của nhà nước trong việc quản lý xã hội một cách trực tiếp và toàn diện. Điều này không có nghĩa là nhà nước lấn át hay đè nén sự quản lý của những thành phần phi nhà nước mà ở đây có sự hoà hợp giữa vai trò của nhà nước và các thành phần phi nhà nước để cả hai khu vực (công và tư) cùng hợp sức huy động và hợp lý hoá tài nguyên trong xã hội, ngõ hầu kiểm soát chặt chẽ, đạt hiệu năng và gia tăng sức sản xuất.

Trong xã hội hiện đại hoá, chính quyền trung ương có xu hướng gia tăng quyền lực của mình đến mọi lĩnh vực và đến tận địa phương (giảm quyền lực địa phương). Thật vậy, lịch sử đã chỉ ra rằng: Các chế độ chính trị cổ truyền thường không với tới việc kiểm soát dược toàn thể dân chúng, hoăc chính quyền cổ truyền chỉ thường đảm nhiệm trọng trách quốc phòng chống ngoại xâm, giữ gìn trật tự an ninh trong nước, duy trì công tác hành chính công và thu thuế để đài thọ những nhiệm vụ trên. Ngay cả ở những nước theo chế độ XHCN trước đây, nhân dân chỉ biết uy quyền trung ương qua nhiều cấp trung gian hoặc như các nước châu âu trước thời hiện đại hoá, quyền hành chính trị thường bị san sẻ cho các lãnh chúa ở các địa phương

Việc tập trung quyền hành vào chính quyền trung ương không có nghĩa là Nhà nước đè bẹp/ không phát huy được hoạt động của tư nhân mà ngược lại: các hình thức kinh doanh tư nhân càng được khuyến khích bởi một chính quyền trung ương vững mạnh và là biện pháp sản xuất có hiệu lực nhất. Ngày nay, ngay cả những nước có truyền thống tôn trọng quyền địa phương như Mỹ và Thuỵ Sỹ nhưng khuynh hướng vẫn là sự gia tăng quyền hành của chính quyền trung ương và giảm sút quyền hành của địa phương. Do cách quản lý này mà mức thu hoa lợi của nhà nước hiện đại dạt được cao hơn hẳn (1/4 thậm chí 1/2 tổng sản phẩm) mức thu hoa lợi của những nhà nước trước hiện đại hoá (1/5 hay kém hơn tổng sản lượng).

Điển hình cho quá trình hiện đại hoá trong lĩnh vực chính trị là sự tập trung và hợp lý hoá những nhiệm vụ bằng bộ máy hành chính chặt chẽ để bảo vệ pháp luật và mối tương quan chặt chẽ giữa chính phủ và người dân. đặc điểm này dẫn đến một hệ quả thông thường là nền cai trị thường có tính chất dân chủ, bởi chỉ có như vậy quốc gia mới có thể trực tiếp quan hệ với người dân (Quốc gia không thể làm được những nhiệm vụ thuế khoá, chính sách ngoại giao, giáo dục, an ninh hay những nhiệm vụ khác mà người dân lại không hiểu và công nhận vai trò của chính quyền. Mà điều này chỉ có thể hình thành được trên cơ sở mọi người dân đều được tham gia thực sự vào việc lựa chọn người lãnh đạo và chính sách- tức một nền dân chủ).

Những biến đổi về kinh tế:

Với sự gia tăng trình độ chuyên môn hoá, với nền tảng của những phát minh khoa học công nghệ, với việc mở rộng không biên giới thị trường trên phạm vi toàn cầu, các quốc gia hiện đại hoá đã đạt được những bước tiến nhảy vọt trong kinh tế: Trong một số nước phát triển, lợi tức đầu tư trong kinh tế đã gia tăng từ 10 đến 20 lần so với hai, ba thế kỷ qua. Đến lượt nó, sự gia tăng này đã ảnh hưởng đến những lĩnh vực khác trong đời sống xã hội (phát triển nông nghiệp quốc nội, củng cố chính trị và nâng cao đời sống văn hoá).

Về mặt kinh tế, có thể coi tổng sản lượng trên đầu người (GDP) là đơn vị đo (thước đo) trình độ hiện đại hoá của một quốc gia.

Dĩ nhiên hiện đại hoá ở phương diện kinh tế là một khía cạnh rất quan trọng, thậm chí quan trọng nhất, nhưng trong nhiều trường hợp phát triển kinh tế lại lệ thuộc rất nhiều vào khía cạnh chính trị và tinh thần của diễn trình, vào sự gia tăng kiến thức và khả năng lãnh đạo để huy động tài nguyên.

Những biến đổi xã hội:

Hiện đại hoá trước hết làm thay đổi cơ cấu nhân khẩu- xã hội học: Số lượng những người tham gia sản xuất nông nghiệp giảm nhanh, số người tham gia những công việc ở những khu đô thị hoá, công nghiệp hoá ngày càng gia tăng.Như vậy, hiện đại hoá, theo một nghĩa hẹp gắn liền với công nghiệp hoá và đô thị hoá, và kéo theo nó là quá trình chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, là quá trình di dân từ các khu vực sản xuất nông nghiệp sang các dịch vụ ở đô thị và làm việc ở khu công nghiệp.

Sự thay thế lao động giản đơn bằng lao động máy móc đã làm giảm sút sự chênh lệch cổ truyền trong quan hệ giới: Trong các xã hội hiện đại, giải phóng phụ nữ, nam nữ bình quyền là những tư tưởng mới, những giá trị mới được đề cao và đang chiếm vị trí ưu thắng.

Về mặt y tế, chăm sóc sức khoẻ, xã hội hiện đại hoá đã có những thành tích vượt trội mà xã hội cổ truyền không thể đạt được. Phòng chống các đại dịch là nhiệm vụ mang tính quốc gia, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng luôn được đặt vào các chương trình nghị sự của nhà nướcTất cả những điều đó đã mang lại những kết quả tốt cho những thành viên của xã hội (giảm dân số, mức sống cao, tuổi thọ nâng, tỷ xuất tử vong giảm)

Xem thêm:: Coenzyme Q10 là gì? Ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả tập

Tất cả những thay đổi ở các phương diện trên đã tạo ra một mô hình xã hội mới- mà theo mô hình xã hội học của M. Weber là mô hình hình bình hành- trong đó tầng lớp trung lưu khá giả ngày càng phình ra, người nghèo khổ cũng như người ở tầng lớp trên ngày càng giảm xuống.

Bên cạnh những điểm tương đồng (Cái tương đồng được hình thành trên cơ sở: Các nhiệm vụ của quá trình hiện đại hoá đều giống nhau), mỗi xã hội lại có những đặc điểm đặc thù trong quá trình hiện đại hoá của của mình ( cái khác biệt lại do trình độ phát triển xã hội không đồng đều và thời điểm hiện đại hoá cũng khác nhau. Ví dụ: Đối với các xã hội âu châu, những định chế cổ truyền đã có từ thời trung cổ và chúng đã được hiện đại hoá từ thế kỷ 12 đến 18. Mọi xã hội khác cũng có những thời gian truyền thống trước khi quá trình hiện đại hoá diễn ra, trong một số xã hội khác kém phát triển hơn thì giai đoạn truyền thống còn tồn tại cho mãi đến thế kỷ 20… Hoặc có những nước quá trình hiện đại hoá là một quá trình nội tại, tiệm tiến, lâu dài. Có nhiều nước lại do tác động từ bên ngoài vào Nói gọn lại, chính sự khác biệt về truyền thống tạo nên những dị biệt trong quá trình hiện đại hoá ở mỗi một quốc gia).

2. Những bài học của quá trình hiện đại hoá

2.1. Những khó khăn và thách thức của quá trình hiện đại hoá

Đương nhiên, không ai có thể phủ nhận dược, hiện đại hoá lại là quá trình có lợi cho nhân loại. Dù dứng trên quan điểm tiến hoá luận hay không thì những tiến bộ kỹ thuật- công nghệ cũng đem lại sự phát triển (ít nhất cũng trên phương diện vật chất) cho nhân loại. Không ít những người lạc quan đã nghĩ rằng: Trong một tương lai gần, có thể có một thế giói không chiến tranh, không ngèo túng.

Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề cũng không phải là không hiển nhiên. Đó chính là những khó khăn, những thách thức của những xã hội bước vào hiện đại hoá.

Ai cũng biết rất rõ rằng, sự hiện đại hoá không chỉ ở những lĩnh vực phi quân sự: Chính điều này đã dẫn đến những thảm hoạ to lớn nhất mà con người từng trải. Những vũ khí quân sự hiện đại ngày nay đã trở thành mối đe doạ bất kỳ một xã hội nào, một quốc gia nào trên phạm vi toàn cầu.

Những ảnh hưởng của hiện đại hoá đối với việc tạo ra một lề lối sinh hoạt mới đối lập với (hoạc loại trừ) lề lối sinh hoạt cũ. Nếu chúng ta quan niệm rằng : Hiện đại hoá chính là quá trình cấu trúc hay tái- cấu trúc các xã hội trên nguyên tắc mới thì điều đó đồng nghĩa với việc chấp nhận một sự tan vỡ (giải cấu trúc) của các xã hội truyền thống. Đây chính là những thách thức đối với một xã hội khi bước vào hay chấp nhận thực hiện quá trình hiện đại hoá: Bởi thực chất hiện dại hoá như là một diễn trình vừa xây dựng vừa huỷ hoại. Nó cung cấp cơ hội mới, triển vọng mới nhưng lại đòi được trả giá bằng sự tàn phá và đau khổ của con người. Điều này được thể hiện rõ nét nhất trong các lĩnh vực đạo đức và văn hoá truyền thống: Những thay đổi về hệ thống giá trị ở đây thường được mô tả như những sự mất mát xót xa, đầy luyến tiếc nhưng bất lực của loài người.

Trong mối quan hệ giữa xã hội toàn bộ với các nhóm trong một xã hội cũng có những biến đổi mạnh mẽ dưới tác động của quá trình hiện đại hoá. Thông thường, các nhà lãnh đạo xã hội thường ưu tiên cho các mục tiêu khẩn cấp và những nhu cầu trước mắt. Điều này khác hẳn với những xã hội chưa đi theo hiện đại hoá: những xã hội này thường có những mục tiêu lâu dài để thực hiện những lý tưởng ngàn đời của mình.

Về mặt quyền lợi, nhóm lãnh đạo xã hội cũ thường có xu hướng bảo thủ, bởi họ bị mất đi những đặc quyền, đặc lợi nếu xã hội của họ đi theo hiện đại hoá. Thực vậy: Một xã hội hiện đại hoá thì điều kiện mang tính tiên đề là cải cách chính trị: Không thể có một nền chính trị quân chủ độc đoán, cũng không thể có một chế độ thiếu dân chủ. Nếu dân chủ thì ngân sách quốc gia không phải chỉ do nhóm lãnh đạo đặc quyền phê duyệt mà được phê duyệt bởi những đại diện của nhiều nhóm có những quyền lợi không giống nhau thậm chí trái ngược nhau. Đó chỉ là một ví dụ, chúng ta có thể dẫn ra nhiều ví dụ ở những lĩnh vực khác nhau về vấn đề này.

Hiện đại hoá dẫn đến xu hướng bành trướng và toàn cầu hoá. Trước hết là ở những phương diện kinh tế và văn hoá, đi theo sau đó lại là cả những phương diện chính trị. Đó chính là nguyên nhân sâu xa của những khủng hoảng chính trị thế giói ngày nay: Những sự kiện như 11/11- Binladen- Chiến tranh I- Rắc, hoặc sự kiện về vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều tiên, I- Ran đã minh chứng nguy cơ này

Về mặt xã hội, hiện đại hoá cũng có những mặt trái:

– Nhiều nơi, sinh suất tăng, tử suất giảm dẫn đến sự gia tăng dân số (vượt quá mức tăng của sản xuất)

– Nếu dân số gia tăng nhanh hơn mức gia tăng của sản xuất thì xã hội sẽ không có số thặng dư để đầu tư tái sản xuất.

Hiện đại hoá còn tác động trực tiếp đến tâm lý của con người:

– ý thức cá nhân phát triển- ý thức và tình cảm cộng đồng giảm sút nghiêm trọng.

– Tính cách con người thiếu tính bền vững

– Những giao tiếp qua các trung gian và cách biệt với cộng đồng làm cho con người ngày càng có xu hướng cô lập hoá

2.2. Mâu thuẫn giữa phát triển và bản sắc văn hoá

Hiện đại hoá gắn liền với sự phát triển kinh tế và xã hội. Nhưng sự phát triển đó lại gắn liền với sự tan rã của hệ thống giá trị và hệ thống thể chế xã hội cổ truyền. Điêù này dẫn đến những tan rã của các khuôn mẫu ứng xử cổ truyền, tức là sự tan rã của nền văn hoá cổ truyền.

Về mặt tâm lý, thông thường không xã hội nào lại muốn văn hoá của mình lại không kế thừa truyền thống, không có bản sắc. Người hiện đại luôn lo lắng bởi nguy cơ toàn cầu hoá văn hoá. Hầu như trong các xã hội hiện đại hoá người ta đều nhận thấy rất rõ rằng: Những “tệ nạn xã hội”- nói theo cách của mọi người trong các xã hội đó- trong xã hội hiện đại hoá được gia tăng khủng khiếp. Đó là nạn phạm pháp dẫn đến trọng tội, nghiện hút, đĩ điếm, ngoại tình, ly dị, tự vẫn, loạn trí óc, streess Tuy không chứng thực được liệu sự hiện đại hoá đã ảnh hưởng đến sự gia tăng tệ nạn xã hội này như thế nào nhưng ai cũng cảm nhận được chính hiện đại hoá là nguyên do của chúng.

Nhiều nhà nghiên cứu (thường được gọi là bảo thủ) cố gắng lý giải nó với nỗi luyến tiếc quá khứ và mơ về một xã hội có đời sống vật chất hiện đại nhưng lại giữ được đời sống tinh thần cổ truyền. Họ cho rằng, nguyên do của những bùng phát tệ nạn này là do quá trình hiện đại hoá đã tách con người ra khỏi cộng đồng, khỏi những cưỡng chế của các thể chế truyền thống, là định hướng giá trị quá nặng về cá nhân, vật chất, thực dụng

Con người sinh sống trong những căn phòng cao ốc và không quen thuộc láng giềng, làm việc trong các văn phòng hay công xưởng, trong đó cứ vài tháng klại có sự thuyên chuyển của các đồng nghiệp, ăn đồ ăn do người khác nấu hay mang lại, ăn uống giữa những người lạ mặt trong quán cơm, hưởng những cuộc giải trí do những công thức điện tử truyền lại, hay trong các rạp hát hay sân thể thao đông người không quen biết, thờ tự trong nhà thờ với những người không quen, con trẻ khôn lớn lên mà ít có cơ hội tiếp xúc với cha mẹ và ở những hoàn cảnh mà sự nguy hiểm diễn ra hàng ngày và ít khi thấy bóng cây hay súc vật. [1, tr. 39]

Hiện đại hoá trong những nước chậm phát triển lại càng làm quá trình tan rã của văn hoá truyền thống trở nên nhanh hơn. Những giá trị và thể chế truyền thống không đủ sức chống lại những ảnh hưởng của lề lối sinh hoạt của các xã hội hiện đại được du nhập thông qua các sản phẩm vật chất và tinh thần từ bên ngoài. Có thể nói, nguy cơ toàn cầu hoá về văn hoá là một nguy cơ có thật chứ không phải chỉ là mẫn cảm hay dự đoán của những người hay lo xa hay những người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi về văn hoá. Hiện nay, người ta thường nói về thứ văn hoá quân bò, áo phông, thứ văn hoá Cô-Ca-Cô-La, hay thứ văn hoá xe hơi- nhà lầutóm lại là văn hoá tiêu dùng đang lấn át những giá trị tinh thần khác của những nước đang bước vào hiện đại hoá, người ta cũng đã nói về những phản ứng quyết liệt của một số xã hội hồi giáo đối với thứ văn hoá Mỹ

Về mặt tinh thần, phim ảnh Hô-Li-Ut, nhạc pop, rook, nhạc rap, hip- hopbóng đá ý, hay bóng chày Mỹ đang là nhưng món ăn tinh thần được ưa thích của thanh niên toàn cầu.

Nguy cơ tan rã của các nền văn hoá truyền thống khi đối chọi với quá trình hiện đại hoá là nguy cơ không của riêng ai. Chính vì vậy, UNESCO đã cố gắng cứu vãn tình thế bằng những khuyến khích các quốc gia tham gia vào công ước bảo vệ di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể). Hiệu quả thực tế đến đâu chưa có những tổng kết, nhưng hiệu quả tinh thần của công ước này thì rất rõ ràng: Nó nhắc nhở các quốc gia và toàn thể loài người phải thận trọng hơn trên con đường hiện đại hoá.

2.3. Hiện đại hoá gắn với đô thị hoá

Hiện đại hoá với hạt nhân là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo ra sự xáo trộn về cơ cấu nhân khẩu- xã hội học: Tỷ lệ người bám trụ ở khu vực nông thôn- nông nghiệp giảm mạnh và thay vào đó là quá trình di dân từ khu vực nông thôn ra các đô thị lớn. Và ngay cả những khu vực nông thôn, (các địa phương) thì công nghiệp tại chỗ cũng phát triển, từ đó những quá trình đô thị hoá mới diễn ra và người dân ở các vùng quê lại tiếp tục chuyển cư đến tại những khu đang được đô thị hoá này.

Nguyên do khiến quá trình di chuyển cơ cấu nhân khâu- xã hội học này không chỉ nằm trong những động cơ kinh tế. Hiển nhiên, những nguyên nhân kinh tế là quan trọng nhất và là nguyên nhân khởi đầu: ở đô thị, người ta kiếm việc làm ổn định hơn, đồng lương xứng đáng hơn và đáp ứng được những nhu cầu tiêu dùng của con người trong xã hội hiện đại hoá. Còn ở nông thôn, mặc đầu nhiều nơi đã được cơ khí hoá hay áp dụng công nghệ tiên tiến, nhưng sản phẩm nông nghiệp không tạo được năng suất lao động cao như những sản phẩm hàng hoá công nghiệp, sức lao động rẻ hơn.

Dần dần, nguyên nhân kinh tế không còn là nguyên nhân duy nhất và quan trọng nhất nữa mà thêm vào đó là những nguyên nhân tâm lý, văn hoá và xã hội khác: Đó là ước muốn được sống như những người của một xã hội văn minh, hiện đại, đó là ước muốn được ssống trong một xã hội tiêu dùng, muốn được phát triển tự do cá nhân (thoát ly ràng buộc cộng đồng), là ước muốn về thay đổi địa vị văn hoá vẫn bị coi là thấp kém của những người làm nông nghiệp

Xem thêm:: Darling nghĩa là gì và cách gọi người yêu tan chảy trái tim

Vì thế, quá trình đô thị hoá là một quá trình tất yếu của một xã hội hiện đại hoá. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình này không phải là nhỏ:

– Mật độ dân cư đô thị bị tăng nhanh với tốc độ khủng khiép. Điều này đặc biệt gây khó khăn với những quốc gia bước vào hiện đại hoá mà chưa chuẩn bị được một cách chu đáo về cơ sở hạ tầng ở đô thị: Điều kiện sống thiếu thốn, giá nhà đắt đỏ, nạn nhà ổ chuột, nạn sống bên lề đườngkèm theo đó là những tệ nạn xã hội mà xã hội tiêu dùng ở đô thị đẻ ra (mại dâm, nghiện ngập, côn đồ)

– Đô thị hoá phát triển dẫn đến những nguy cơ về ô nhiễm môi trường (các nhà máy và khu công nghiệp thường được tập trung hoá cao độ, gây ô nhiễm; đất chật- người đông cũng gây ô nhiễm, các văn hoá khác nhau của các cá nhân mang từ nhiều nơi đến cũng gây nên các hành vi ứng xử với môi trường không thuần nhất)

– Không đủ công ăn việc làm cho tất cả những người sống ở đô thị dẫn đến nạn thất nghiệp, nạn làm chui, trốn thuế, bất hợp pháp. Điều đó là một trở ngại đến công việc điều hành và quản lý xã hội đô thị và gây rối loạn về mặt chính trị và xã hội. Đó là nguyên nhân của những cuộc đình công, bãi công, bãi khoá, thậm chí cả những cuộc bạo động

– Văn hoá- lối sống đô thị lấn át văn hoá- lối sống của các cộng đồng truyền thống. Điều này dẫn đến nguy cơ mất bản sắc của nền văn hoá của quốc gia đang đi vào hiện đại hoá.

Tất cả những vấn đề này đã tiền diễn ở những nước đẫ và đang trải qua quá trình hiện đại hoá. Mặc dù nó là một xu thế tất yếu nhưng nếu biết dự phòng thì các nhà quản lý xã hội sẽ tránh được những tác hại mà quá trình này sẽ sản sinh ra.

2.4. Cải cách phải toàn diện và đồng bộ, trong đó chính trị phải đi đầu

Như đã trình bày ở phần đầu, hiện đại hoá không phải chỉ là quá trình áp dụng khoa học – công nghệ tiên tiến để tăng năng suất lao động, làm tăng của cải xã hộimà là một quá trình biến đổi đồng bộ cả ở các phương diện của đời sống xã hội: Chính trị- kinh tế- xã hội – tâm lý và văn hóa.

Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải ở đâu sự biến đổi cũng diễn ra đồng đều ở tất cả những phương diện của đời sống xã hội. Vậy vấn đề đặt ra là: Nếu xếp thứ tự thì cần đổi mới ở phương diện nào trước?

Theo nghiên cứu từ khảo sát 170 quốc gia của Black [1] thì quá trình hiện đại hoá ở các nước đều phải trải qua những giai đoạn sau:

(1). Sự thách đố của tình trạng tân tiến – sự ứng phó nguyên thuỷ của xã hội- có một khung cảnh cổ truyền về kiến thức- trước những ý kiến và các lập chế tiên tiến; và sự xuất hiện những người chủ trương hiện đại hoá

(2). Sự tổng hợp các vị lãnh đạo tân tiến- sự chuyển giao quyền hành từ các vị lãnh đạo cổ truyền tới các vị lãnh đạo tân tiến trong một cuộc cách mạng gay go có thể kéo dài nhiều thế hệ

(3). Sự cải cách kinh tế- xã hội – Sự phát triển kinh tế- xã hội khiến cho một xã hội có đời sống thôn dã và nông nghiệp biến thành xã hội có tính cách đô thị và kỹ nghệ.

(4). Sự tổng hợp xã hội- giai đoạn trong đó sự biến cải kinh tế và xã hội cấu tạo sự cải tổ sâu rộng trong cơ cấu xã hội.[1, tr. 76]

Như vậy, trừ bước 1 được coi như là những điều kiện khách quan và chủ quan của hiện đại hoá ở một quốc gia và giai đoạn 4 là giai đoạn tổng hợp thì các giai đoạn hiện đại hoá được xếp thứ tự ưu tiên như sau:

Giai đoạn đầu tiên là cải cách chính trị:

Mấu chốt của cải cách chính trị là vấn đề cải cách lãnh đạo chính trị. Lãnh đạo ở đây được hiểu là những người thiết lập ra các chính sách xã hội và họ không chỉ là một số ít lãnh đạo hàng đầu mà là hàng nghìn cá nhân trong xã hội đóng vai trò trọng yếu trong khi quyết định chính sách.

Trong một xã hội tương đối “yên tĩnh” các nhà lãnh đạo xuất thân từ một thiểu số gia đình quý tộc hoặc tài phiệt, họ được lựa chọn và huấn luyện theo những thủ tục vững chắc. Trong những thời kỳ có nhiều chuyển biến đột ngột, các nhà lãnh đạo xuất phát từ nhiều nguồn gốc. Hiện đại hoá trong lĩnh vực chính trị chính là sự chuyển giao quyền lực chính trị từ tay người cũ đến tay người mới.

Trong cơ cấu của giai cấp lãnh đạo (mà xã hội truyền thống thường dùng chữ” giai cấp thống trị”) ở xã hội hiện đại hoá, tầng lớp trí thức đóng vai trò chủ đạo.

Vấn đề chính trong sự hiện đại hoá chính trị là quá trình mà xã hội bước qua giai đoạn chuyển tiếp từ sự lãnh đạo chính trị nằm trong hệ thống truyền thống tới một sự lãnh đạo chủ trương hiện đại hoá. Trong các xã hội truyền thống, giới lãnh đạo cũng đồng thời là giới thượng lưu có quyền lực chính trị đi đôi chặt chẽ với những quyền lợi thu được từ lợi tức điền địa, địa vị quân sự và ảnh hưởng tôn giáo. Tuy nhiên, do tình trạng cát cứ nên thực tế quyền lực chính trị của họ cũng không phải là mạnh mẽ như các nhà lãnh đạo chính trị của xã hội hiện đại. Trong xã hội hiện đại, chính quyền có nhiều trách nhiệm và uy quyền hơn bao giờ hết. Dùng cách đánh thuế hay hàng triệu cách kiểm soát và cung cấp dịch vụ, chính quyền đã trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của người dân ở một mức độ chưa bao giờ có. Để phục vụ cho bộ máy lãnh đạo này, kiểu lãnh đạo gia đình trị không thể tồn tại được nữa. Quốc gia hiện đại cần một guồng máy hành chính to lớn.

Qúa trình hiện đại hoá chính trị có thể diễn ra theo hai cách/ hai nguyên do:

– Thứ nhất là ngay trong các vị lãnh đạo truyền thống đang nắm giữ quyền hành có thể có những người ý thức được/ hoặc vì tình thế ép buộc mà nhận ra hệ thống cai trị của họ đã lỗi thời và cần được canh cải. Tuy nhiên, với con đường này, công cuộc hiện đại hoá khó có thể trở nên triệt để, bởi sớm hay muộn họ cũng nhận sẽ nhận thấy phải tự canh cải mình và gia đinh cũng như bạn bè mình. Điều đó đồng nghĩa với việc bản thân mình, gia đình và bạn bè mình buộc phải từ bỏ những đặc quyền, đặc lợi mà địa vị lãnh đạo truyền thống đã mang lại cho họ.

– Thứ hai là do những thế lực bất mãn với các vị lãnh đạo cổ truyền tại chức. Có thể những người này nằm ngay trong ngay giới lãnh đạo cũ, họ muốn tiếm quyền trong chiêu bài cải cách, hiện đại hoá; cũng có thể (mà đa phần là như thế) họ là những người thuộc tầng lớp trí thức tiên tiến (luật sư, bác sỹ, các doanh nhân, tướng lĩnh quân đội), họ ý thức được việc hiện đại hoá sẽ buộc các vị lãnh đạo truyền thống phải từ bỏ đặc quyền, đặc lợi.

Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, các vị lãnh đạo cổ truyền chỉ từ bỏ vị trí lãnh đạo của mình khi bị cưỡng bách.

Nội dung của cảỉ cách / hiện đại hoá chính trị bao gồm:

– Các vị lãnh đạo tuyên bố ý chí hiện đại hoá

– Sự đoạn tuyệt hữu hiệu và quyết liệt đối với những định chế xã hội và lề lối sinh hoạt thôn dã để chuyển sang một lề lối sinh hoạt kỹ nghệ.

– Xây dựng một tổ chức chính trị tương ứng

– Xây dựng mối quan hệ dân chủ giữa chính phủ và nhân dân

– Giai đoạn thứ hai là cải cách kinh tế và xã hội:

Xem thêm:: KOLs là viết tắt của từ gì? Xe hướng marketing 2022 – Adpia

Đây là giai đoạn khi các nhà chính trị chủ trương hiện đại hoá đã nắm đưọc chính quyền và xã hội đó đã phát triển tới mức đô thị chiếm vị trí kinh tế- xã hội ưu thắng và lợi ích của xã hội toàn thể được đặt lên trên lợi ích của các địa phương hay những nhóm chuyên nghiệp.

Trong các quốc gia tiên tiến, giai đoạn này diễn ra từ 1832- 1945 tại Anh, từ 1848- 1945 tại Pháp, từ 1865- 1933 tại Hoa Kỳ. Một số nước khác, giai đoạn này diễn ra muộn hơn: từ 1917 tại Nga, 1923 tại Thổ Nhĩ Kỳ- cho tận đến nay.

Hạt nhân của giai đoạn này là sự phát triển khoa học- công nghệ. Nếu như ở giai đoạn đầu của thế kỷ 19, khoa học được gộp chung vào một thứ gọi là triết học, thì giai đoạn bùng nổ của khoa học với những bộ môn thoát khỏi triết học như vật lý, sinh học !00 năm sau, khi các nhà khoa học trong cùng một môn học với nhau khó có thể tìm hiểu công việc của nhau một cách thấu đáo, bởi sự chuyên môn hoá đã được đẩy lên tới mức cao nhất.

Cùng với khoa học là sự phát triển rực rỡ và nhanh chóng của kỹ thuật- công nghệ: Hơi nước- điện- điện tử- sinh học- tin học

Sự phát triển của khoa học công nghệ làm thay đổi hẳn cả chính sách kinh tế: Người ta tập trung sự nỗ lực vào canh cải kinh tế- xã hội ở phạm vi quốc gia hơn là vào cấp địa phương hay quốc tế. Vì thế, một hệ quả tất yếu trong lĩnh vực chính trị là: Sự đề cao và tập trung quyền lực hành chính ở cấp quốc gia và phát triển tinh thần quốc gia. Trong giai đoạn này, an ninh xã hội trên phạm vi quốc gia được đề cao và ý thức cục bộ địa phương bị lên án, bởi nó đe doạ tinh thần đoàn kết quốc gia.

Thời kỳ đó, những khía cạnh chính trị và xã hội của những cải cách kinh tế chưa được nhận ra nhưng những lợi ích kinh tế thì được thấy rất rõ. Không ai ngăn nổi sự ưu tiên tất cả cho những mục tiêu và lợi ích kinh tế và một cách vô ý thức đã coi nhẹ tất cả những phương diện khác của quá trình cải cách.

Quá trinh này (chuyển cơ cấu kinh tế- xã hội từ nông nghiệp sang công nghiệp) dẫn đến quá trình đô thị hoá, thay đổi cơ cấu dân cư. Nhiều nước, quá trình này đã ảnh hưởng tới mức sống (mức sinh hoạt của nhiều tầng lớp đã bị giảm sút một vài thế hệ). Lối sống nông thôn vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong thời kỳ này tạo thành một trở lực đối với quá trình hiện đại hoá.

Tóm lại: Hiện đại hoá là một quá trình canh cải xã hội toàn diện, tuy nhiên:

– phải nhận thức được vai trò then chốt của cải cách chính trị.

– Đây là một quá trình lâu dài và gian khổ (hàngvài chục, có nơi hàng trăm năm chứ không phải một vài năm hay chục năm mà xong)

– Hiện đại hoá là một quá trình liên tục, theo nhiều nhịp độ và trên nhiều phương diện khác nhau

– Không nhất thiết tất cả mọi xã hội bước vào hiện đại hoá đều phải trải qua 4 giai đoạn và theo trình tự như nhau mà tuỳ từng điều kiện khách- chủ quan của từng quốc gia, từng thòi điểm bước vào hiện đại hoá mà sự ưu tiên các phương diện cũng như trình tự của quá trình hiện đại hoá có thể khác nhau.

3. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hiện đại hoá ở Việt Nam

3.1. Thuận lợi

– Thời điểm hiện đại hoá ở Việt Nam muộn hơn so với nhiều nước trên thế giới. Điều này có nghĩa là: Về phương diện khoa học- công nghệ, Việt Nam sẽ rút ngắn được con đường công nghiệp- kỹ nghệ hoá. Nếu như các nước như Anh, Pháp phải mất hàng trăm năm để đạt được những canh cải về kỹ nghệ như hiện nay thì Việt Nam có thể chỉ mất một vài chục năm.

– Với truyền thống hàng ngàn năm, đặc biệt là truyền thống giữ nước, người dân Việt Nam đã có một ý thức quốc gia từ lâu đời. Thêm vào đó, truyền thống cát cứ ở Việt nam không lớn, do đó ý thức địa phương chủ nghĩa không lấn át được ý thức quốc gia. Đây là một thuận lợi cho công cuộc hiện đại hoá khi chính quyền trung ương muốn thâu tóm quyền lực trên phạm vi quốc gia.

– Mức sống của người dân đang còn thấp nên hiện đại hoá sẽ tạo được viễn cảnh tốt về mức sống và khả năng công ăn việc làm cho nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đây là một động lực tinh thần cho những cải cách của các nhà lãnh đạo chính trị tiên tiến.

3.2. Khó khăn

– Thuận lợi đầu tiên mà chúng tôi đã nêu ra thực tế lại là một khó khăn của quá trình hiện đại hoá ở Việt Nam. Việt Nam bước vào hiện đại hoá muộn hơn so với các nước châu âu và Mỹ thì khi bước vào hiện đại hoá sẽ vấp phải nguy cơ “Dục tốc bất đạt”.

Thứ nhất, những công nghệ mà chúng ta mua của các nước tiên tiến chưa hẳn đã là công nghệ hiện đại nhất. (Thông thường, những liên doanh công nghệ của ta với các nước phát triển chỉ là những chuyển giao những công nghệ đã không còn hợp thời hoặc sắp hết thời của các nước đó. Họ liên doanh với ta để khai thác triệt để đồng vốn mà họ đã bỏ ra cho đống công nghệ đã sử dụng gần hết công suất kia mà thôi)

Thứ hai, trình độ khoa học kỹ thuật của ta chưa đủ để tiếp nhận và phát huy sức mạnh của các công nghệ hiện đại. Vì thế, giả dụ chúng ta có nhập được công nghệ tiên tiến nhất, thì chúng ta cũng không thể sử dụng chúng một cách hiệu quả.

– Khó khăn thứ hai là chúng ta chưa trải qua giai đoạn cải cách chính trị, đặc biệt là cải tổ lực lượng lãnh đạo có tư tưởng hiện đại hoá. Như đã phân tích ở các phần trên, khi chưa có cải cách chính trị thì cho dù ta được trang bị những công nghệ cao, công việc hiện đại hoá cũng không có tiến triển. Thực tế chính trị của chúng ta cho thấy: Đại đa số các nhà lãnh đạo chính trị của ta chưa được chuẩn bị về mặt tư tưởng cũng như tri thức cho công cuộc hiện đại hoá (nhiều người vẫn nghĩ rằng: Hiện đại hoá đồng nghĩa với công nghiệp hoá hay việc sử dung các công nghệ hiện đại). Mặc dầu ta đã thực hiện một số cải cách chính trị như dần xoá bỏ chế độ quan liêu- bao cấp, mở cửa với nước ngoài, coi tất cả là bè bạn để cùng hợp tác tiến bộNhưng đó mới chỉ là những cải cách cấp thời, chưa mang tính căn bản và triệt để: Trên thực tế, chúng ta chưa tách rời được mối quan hệ giữa Đảng phải chính trị với nhà nước và chính phủ. Nạn tham những với nhiều hình thức khác nhau chứng tỏ những đặc quyền đặc lợi của những người có chức có quyền còn tồn tại. Như vậy, khó có thể nói đến một nhà nước với hệ thống cán bộ lãnh đạo đã sẵn sàng cho công cuộc hiện đại hoá, bởi nếu hiện đại hoá thì người đầu tiên chịu thiệt thòi chính là giới lãnh đạo chính trị bảo thủ. Khi thấy quyền lợi của mình bị xâm hại, những người lãnh đạo bảo thủ sẽ ngăn trở tốc độ của quá trình hiện đại hoá này.

– Khó khăn thứ ba là những trở lực của nền văn hóa truyền thống: Nền văn hoá truyền thống hàng ngàn năm xuất phát từ sản xuất nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam cũng là một trở lực đối với quá trình hiện đại hoá. Lối sống và tư tưởng của nền văn hoá nông nghiệp luôn chống trả những thay đổi về hệ giá trị, tư tưởng và đạo đức mà hiện đại hoá sản sinh ra. Mâu thuẫn giữa quá trình đô thị hoá với lối sống thôn dã luôn là những nghịch lý khó bề giải quyết ổn thoả. Tình trạng “nông thôn hoá thành thị” đã và vẫn đang là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam- Đây là một nghịch lý của những nước từ nông nghiệp lạc hậu đi lên hiện dại hoá.

– Khó khăn thứ tư là sức ỳ tâm lý: Tâm lý làng xã cũng ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình hiện đại hoá ở Việt Nam. Tâm lý co cụm, bè phái – tàn dư của tâm lý làng xã- cản trở việc hình thành một kiểu tâm lý mới thiên về cá nhân- một động lực mới của quá trình hiện đại hoá. Đặc biệt tiêu cực khi những tâm lý này dẫn đến những hành vi bè phái, cục bộ địa phương trong giới lãnh đạo chính trị, bởi điều này ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng một chính quyền trung ương thống nhất trên lãnh thổ quốc gia.

– Khó khăn thứ năm là mặt bằng dân trí: Đại đa số dân cư ở Việt Nam hiện nay là nông dân. Họ là những người không có học vấn cao và nhận thức của họ về các phương diện của đời sống xã hội đang còn ở mức thấp. Ở thành thị dân trí cũng chưa phải là đã cao bởi mặt bằng đại học của ta còn thấp và lạc hậu, truyền thông đại chúng của ta vẫn đang ở tình trạng một chiều. Với mặt bằng này, người lao động khó có thể tiếp thu được những tri thức mới cũng như những kỹ nghệ cao.

– Mặt bằng phát triển xã hội khác như y tế, bảo hiểm xã hội, an toàn trật tự của Việt Nam cũng còn đang ở mức chưa ổn định. Trong bối cảnh còn khó khăn về kinh tế, nhiều nhu cầu kinh tế trước mắt được ưu tiên đã gây nên sự mất cân đối trong phát triển đồng bộ và toàn diện. Những yếu kém về mặt xã hội này cũng ảnh hưởng tiêu cực trở lại đối với công cuộc hiện đại hoá.

TS. Bùi Quang Thắng

Biên soạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. E. Black, The Dinamics of Modernization, New York, 1966

Cám ơn bạn đọc đã đọc hết bài viết kiến thức chuyên sâu của gtvthue.edu.vn
Back to top button